Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2007

SƯỚNG

Trời ui. Hôm nay may mắn được nói chuyện với một em rất chi là xinh đẹp. Khuôn mặt trái xoan này. Da trắng mịn màng này. Mắt tròn xoe này. Nói chung là đẹp đến từng... cen ti mét!


Vui hơn nữa là cuộc trò chuyện kéo dài đến quá nửa đêm. Cả hai cùng cười khúc khích và rủ nhau leo lên giường.

Sướng cái là giường chật nên không thể nằm bên cạnh nhau như bình thường.

Dĩ nhiên là tôi phải để cô em này... nằm dưới roài.

Còn tôi dĩ nhiên là nằm trên.

Cái giường cứ rung rung, lắc lắc.

Thi thoảng lại phát ra âm thanh nghe rất chi là lãng mạn.

Ngoài trời thì mưa...

Sướng!

Tha hồ mà tưởng tượng nhé.

Tôi đang ở trên tàu hoả.

He he. Tôi nằm tầng 2, còn cô gái nằm tầng 1.

Tàu chạy thì gì mà chả lắc.

Hic.

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2007

Những chuyến đi của một thời

Thượng nguồn sông Đăck B'la, Kon Tum

Những chuyến đi ấy bắt đầu từ năm nhất Đại học.

Đi, đơn giản chỉ để đến và biết một nơi chưa biết.

Hồi đó, tức 15 năm trước, đi là cả một vấn đề. Túi không tiền, vùng đất mới chưa có bạn, không chỗ tá túc, chỉ đủ tiền xe sau khi đã vay mượn lòng vòng. Có chuyến đi phải mượn tiền của 20 đứa bạn, mỗi đứa 2 ngàn.

Lần đầu tiên, thót lên một chiếc Ford cổ lỗ sĩ trước cửa trường Luật, đi Bình Dương.

Chuyến sau, đi Đà Lạt. Tối ngủ kí túc xá, say rượu, nghe một cha sinh viên già đọc thơ. Hỏi ra mới biết y là Thanh Dương Hồng, rồi Đào Đức Tuấn, Nguyễn Ánh Tuấn (nay đã mất). Tính ở một ngày, nhưng mãi ba ngày sau mới về đến SG. Phần vì bạn bè rủ rê, phần nữa câu giờ để cho thằng Ngọc Lâm đi vay tiền cho ta về xe.

Những em bé Jarai ở xã YaXia, Sa Thầy, một chiều đông

Chiều tối nọ, rủ Thăng Long đi rừng. Hai thằng bắt xe đến Dầu Giây rồi chuyển xe khác. Không xe nào dừng, rừng cao su vắng hoe. Đưa ba lô cho Long, ta hiên ngang giữa đường (vì cóc còn cách nào khác), dang tay. Một xe chở rau thắng gấp, bác tài xuống tính nện cho một trận nhưng rồi thấy hai thằng sinh viên coi bộ cũng hiền lành, cho quá giang miễn phí lên La Ngà.

Ải Chi Lăng, Lạng Sơn, cùng với Phạm Hiếu

Lại rủ Phan Bá Thọ lên rừng La Ngà. Giữa hoang vu rừng Thanh Sơn, khu đệm của Nam Cát Tiên. Khuya chợt nghe tiếng sáo gọi bạn của một chú trai người Dao (di cư từ Ba Chẽ, Quảng Ninh). Bên căn nhà gỗ, một thiếu phụ ru con dưới trăng. Nàng có vẻ cô đơn, khi về tiễn hai thằng ra, nàng bảo: "Chồng em đi rừng nửa tháng mới về!". Nàng người Kinh, khá xinh. Tối về khu tập thể lâm trường, lôi rượu ra uống, Thọ càu nhàu bằng cái giọng đặc Quảng: "Mi vừa đánh mất một cơ hội". Mãi ba năm sau ta mới biết hết cái ý của hắn. Nhưng cơ hội có bao giờ trở lại.

Đường vào "vương quốc ma tuý" Na Ư, huyện Điện Biên Đông, Lai Châu

Những lần đi sau đó và sau đó nữa, hành trang đã có thêm chiếc máy ảnh Zenit. Những chuyến đi sau cũng rủng rẻng hơn vì mỗi chuyến đi có thêm vài bài báo.


Và bây giờ, ngoài ô cửa là màn mây, đơn điệu.

Mười năm nay, đi nhiều, nhưng hình như cảm xúc đã không nhiều như xưa. Những chuyến đi bây giờ chỉ chăm chăm vào công việc, đặt lịch phỏng vấn, mail bài rồi bay về. Ngày xưa hăm hở ngó nhìn, nay chỉ tranh thủ ngủ trên xe, trên chuyến bay. Đi xa, dằn giỏ một cuốn sách giết thời gian, ít nhìn ra cửa xe hơn trước.
Mình đang lớn lên hay nhỏ lại?

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2007

HÔN NHAU Ở ĐÂU CHO ... LÃNG MẠN


Hôm nọ nghe cô bạn kể, dạo này giới trẻ ngồi trong ô tô, tắt/ bật, tắt/ bật điều hoà để tạo nên một màn sương mờ - đủ để người ngoài không nhìn thấy - sau đó thoải con gà mái "doing" mọi thứ. Như thế mới gọi là siêu lãng mạng. Hì, mình đêk có ô tô. Nhiều người cũng đêk có ô tô. Lèm thé nèo bi giờ?


Lại nữa, trên báo mấy hum nay rêu rao chuyện các đôi tình nhân bị cướp trong công viên, các chỗ vắng người qua lại. Thậm chí một nữ thí sinh của Sao mai điểm hẹn bị đâm chết, người iu thì bị trọng thương. Oái, vào chỗ tối - em sợ lém!


Sợ thì sợ nhưng nhu cầu "KISS" nhau của giới trẻ vẫn có. Mà không phải ai cũng đủ can đảm "thực hành" dưới cột đèn cao áp hay ở ngoài đường. Có một chỗ khá an toàn, "nãng " mạn, đó là bên bờ Hồ Tây (đoạn đường Thanh Niên) nhưng có phải lúc nào cũng chen chân được đâu.


Quên mất là còn một chỗ nữa khá "lành mạnh" là khuôn viên của Đại học QG Hà Nội. Chỗ này là "bình thông nhau" của 3 trường: DDHSP + ĐHNN +DDHQG. Khuôn viên rộng mênh... xờ mông. Tuy nhiên, nếu sau 9 h mà còn "xì xụp" ở những chỗ tối thì sẽ bị lực lượng bảo vệ xua như xua gà. Thế thì còn gì là cảm xúc nữa.


Theo một "tay chơi vừa vừa" (hổng phải cỡ bự) thì anh ta thường vào cà phê... chuồng (tưởng trâu bò, heo mới cần chuồng chứ nhỉ?). Kakka. Hình như là trên đường Đê La Thành có một cái quán bửn bửn tên là H.G gì đó. Vài anh em kể rằng, vào đây vừa chật, vừa... hôi. Ngồi chuồng này thì cứ nghe "lách cách" (hông phải tiếng cốc chén thì chắc là tiếng thắt lưng) từ phòng bên cạnh. Rùi ở đường Trần Hưng Đạo, phía sau Hồ Tây (cái đường gì đi qua Thời báo Ngân hàng í) cũng có.


Hi hi. Chuối đêk chịu được. Hum nay định làm cái việc được coi là "hướng dẫn tiêu dùng" cho pà con nhưng chẳng biết gì mấy. Khổ. Cháu vốn ngoan ngoãn, cố gắng (gọi tắt là "ngoan cố") nên chỉ bít có vậy. Mong các bác đóng góp...

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2007

KINH DOANH "LÒNG TỐT"


Nên giúp đỡ những người không còn khả năng lao động

* Cách đây mấy năm, ngay tại cây xăng Trần Hưng Đạo (Hà Nội), có một ông già trông vẻ mặt rất đau khổ đi một cái xe máy Future ngửa tay xin tôi mấy nghìn để đổ xăng. Không chần chừ, tôi móc ví cho ông ấy 10 nghìn đồng (hồi đó xăng 6nghìn/lít). Người đàn ông này cảm ơn, còn tôi, vui vì làm được một việc tốt.


Sau đó chừng hai năm, ngay tại Cung văn hoá Việt Xô (đường Trần Hưng Đạo), một người đàn ông dắt xe máy, cũng ngửa tay xin tiền khiến tôi ngờ ngợ. Nhìn kỹ, cũng là xe Future, cũng là vẻ mặt đau khổ ấy. Nếu không gặp lại cảnh này, chắc chắn tôi cũng không còn nhớ mình đã cho ai đó 10 nghìn đồng. Rất buồn nhưng tôi vẫn phải nói rằng: "Cách đây 2 năm tôi đã cho ông 10 nghìn..."


Mới đây thôi, cũng người đàn ông ấy, tại đường Lý Thường Kiệt, ông ta định chìa tay ra nhưng nhìn thấy mặt tôi nên quay sang một người phụ nữ khác...


* Ngay tại bờ hồ, rồi đường thi thoảng ở đường Tràng Thi, có một người phụ nữ luống tuổi ăn vận khá "model" cũng thường xuất hiện với câu nói quen thuộc: "U bị lạc. Con cho u xin mấy nghìn đi xe về nhà được không...". Tôi cũng đã gặp bà ta mấy lần.


* Ngày trước, đọc báo thấy ở Nga có người đi ô tô, chuyên ăn xin ở các cây xăng. Những tưởng chuyện chỉ xảy ra ở Nga vào thời kỳ kinh tế còn khó khăn. Không ngờ, việc này đã du nhập về Việt Nam và "thích nghi" nhanh đến thế.

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2007

Những câu thơ ngày 20 tuổi

Khật khưỡng với Vương Huy lúc 2 giờ sáng ở Phan Thiết. Ảnh: MINH TRƯỜNG

15 năm trước, lũ chúng ta 20 tuổi.
15 năm trước, đứa nào cũng nghĩ mình là vĩ nhân
15 năm trước, đứa nào cũng trong trẻo
Nhưng 15 năm trước, hiểu theo nghĩa của những kẻ chăm chỉ, tụi mình đứa nào cũng bê tha. Phan Bá Thọ, Vương Huy, Đàm Hà Phú, giờ ngồi đếm lại không biết đứa nào uống rượu khá hơn đứa nào. Chỉ có hai thằng ham vui mà ít uống là Tiến Hùng và Minh Trường.


Đức Hiển, Song Phạm, Nguyễn Danh Lam, Ly Hoàng Ly, nhà thơ Nguyễn Thái Dương, Hải Thy, Nguyễn hữu Hồng Minh tại lễ trao giải thơ Bút Mới lần 2 của Báo Tuổi Trẻ, 1996

Tất cả đều điên khùng, trong sáng, dễ thương. Tất cả đều làm thơ, đều thức đến hai giờ sáng và thức dậy lúc hai giờ chiều.
Nhưng rồi có vài thằng bỏ thơ đi làm báo.

Dưới đây là những câu thơ của ngày chúng ta 20 tuổi.
Nhớ và chép lại.


Thơ ngày về
VƯƠNG HUY

Những tàn tro của một thời vong tưởng
Gió xuân thì mãi cuốn đến hôm nay
mẩu quá khứ bay trong mùa lầm lỡ
Làm cơn mưa giăng kín góc tim gầy


Ta trở về men lối cũ hoa bay
Nhặt dấu chân của loài người rơi vãi
Buông dấu chấm xuống trang đời con gái
Em trở thành nỗi nhớ của thơ tôi


Cây đa nào mà chẳng đứng mồ côi
Dù bến nước có trải lòng đón lá
Trên giấy trắng nghìn câu thơ rơi lả
Biếc xanh gì cho khỏi đáy trầm luân


Bao ước mơ xinh xắn trứng thạch sùng
Chỉ khoảnh khắc kịp chạm va mặt đất
Nghìn nâng niu cũng một lần vụn nát
Chậc lưỡi làm tên gõ nhịp thời gian


Bão tan rồi, cầu gãy, nước mênh mang
Bờ bồi lở không cành hồng nào ngã
Ngắt cọng cỏ mà nghe đời buồn lạ
Mỏi chân vì những chuyện quá vu vơ


Bế nỗi buồn trao ngày tháng đong đưa
Ngồi trên lá nghe cành khô trở biếc
Trong giấc mơ có nghìn con buớm chết
Triệu cánh tàn lả tả mái hiên hoa


Sau dăm biến cố của cuộc sống, Huy thôi không làm sinh viên của trường ĐH Tài chính kế toán nữa. Huy về quê ở Tiền Giang, dạy học. Dễ đến mười năm không gặp nhau. Thỉnh thoảng đọc trên mạng, biết bạn còn làm thơ. Nhưng tôi vẫn thích những câu thơ ngày 20 bạn viết. Buồn, đẹp, đầy dự cảm về những mất mát và cái chết.


Phố vẫn thay màu
QUỐC SINH


Anh sống trong căn phòng nhỏ
Mảnh gương treo cô độc trên tường

Thay vì mỗi sáng soi mặt vào đó
Anh thích nhìn qua cửa phố mù sương


Lúc ra đi chỉ khép hờ gió lại
Bạn bè đôi khi đế
n bất chợt tìm
Anh thường về cuối ngày không ai đợi
Nghe trên mái chiều đầm ấm một tiếng chim


Những đêm vắng im lìm, con phố nhỏ
Vang tiếng chân tình tự suốt hiên đường
Công viên nằm phía tây, bến cảng nằm phía đông thành phố
Mưa vẫn xuôi về lặng lẽ một phương


Nơi anh sống, những hàng cây, góc phố
Những tường rêu, ô cửa giống hệt nhau
Hình như có điều chi trên lá cỏ
Cho anh nhận ra không gian vẫn thay màu.


Sinh hiền lành, chẳng bao giờ tranh chấp với ai, hơi cô đơn. Giờ uống rượu, làm thơ và dạy học ở Hòn Khói, Khánh Hoà. Lâu lắm rồi không gặp và cũng ít đọc thơ Sinh. Nhưng mỗi năm vẫn đều đặn một lần gọi điện cho bạn xin thơ đăng báo tết. Bạn rủ về Hòn Khói, hứa mãi mà không biết bao giờ thực hiện.


Mèo hoang
NGUYỄN HỮU HỒNG MINH


Có lẽ thôi xin đừng mơ mộng nữa
Vó ngựa khua bỏng rát bốn phương trời
Ta trắng tay để giờ tay vẫn trắng
Dụ ngôn buồn sao mà thật
, người ơi


Đôi mắt uớt em nhìn thương đến thế
Thôi ta đi, khép lại chút, mèo hoang
Quả sấu rụng, mái ngói già đã chết
Hồn ai bay như xác lá điệu đàng


Tóc mẹ bạc xoá một thời con gái
Tuổi qua tay gió cuốn véo veo rồi
Em đừng khóc, cuộc đời ai cũng thế
Ta lên đường. Ta muốn hét. Nhưng thôi


Từ tạ nhé ngày xưa mười sáu tuổi
theo mưa hun hút cuối khu vườn
Em ở lại, này mèo hoang yêu dấu
Ngậm chút buồn trên ria mép mà thương


Xưa mình thích thơ bạn, thơ bạn giờ triết lý và nhiều tuyên ngôn, không thích.


Đò dọc
MINH TRƯỜNG


Về bến Hạ gặp triền sông gió nắng
Gặp mùa xưa nở tím mấy hoa bần
Nghe thương bóng con đò năm cũ
Em có ngồi giặt nhớ tháng Giêng không


Xuôi ký ức mùa xuân nào xa lắc
Sông đắp lên mình vảy nước chiều
Xa quê cũ, ta giờ thành phố thị
Ai đo l
òng thước nước líu riu


Em xoã tóc là bay vèo thương nhớ
Tháng giêng ơi con sóng cứ cồn cào
Tình cũ, tay giờ xuôi mấy nhánh
Chót mỏm cồn lay lắt bóng hàng cau


Về bến Hạ le re cơn gió chướng
Sông mọc dùm ta nhé vầng trăng
Hoa cau rụng bên này bến lở
Ru em, đành mượn lời tình không


Minh Trường quê Bến Tre. Tất cả những bài thơ của Trường luôn có đồng bằng và mẹ. Thằng bạn học cùng trường, ở cùng phòng, cùng đói kém và cùng đi làm báo. Giờ là phóng viên báo SGGP, thường trú Miền Tây

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2007

Cửa ải


Tác giả và nhà thơ chăn bò Lại Phiền Hà trên ải Vân Quan

Theo từ điển tiếng Việt, cửa ải là nơi giáp giới giữa hai nước, có xây cửa, trạm gác và có quân đội trấn giữ.

Nói chung, để vượt qua cửa ải, người ta phải trải qua những khó khăn. Nên mọi người vẫn xem những dấu mốc trong cuộc đời, trong sự nghiệp, công việc như những cửa ải.

Ta dăm lần đi qua cửa ải. Ở ải Nam Quan, chẳng cảm nhận gì nhiều. Để lên cái ải này, đường bộ đi còn thấy mệt, huống chi ngày xưa Nguyễn Trãi tiễn Nguyễn Phi Khanh. Không biết bố con của Ức Trai có chuyện gì để nói dọc đường mà tiễn nhau xa thế. Ta lên đây, nhìn cái bia Hữu Nghị Quan 0 km của quốc lộ 1A và thầm cáu: Gọi là Hữu Nghị, thế mà những năm bảy tám, bảy chín các chú kéo quân qua đây và biến thị xã Lạng Sơn thành bình địa hoang phế. Nói chung, nên đề cao cảnh giác với cái tình hữu nghị ngàn đời, đánh nhau ngàn đời này!

Ở ải Chi Lăng, cũng lẩn thẩn thắc mắc rằng, nếu gọi cửa ải nằm ở biên giới của hai nước, thì cái cửa ải dưới chân đèo Sài Hồ nằm sâu mấy chục km trong đất Lạng Sơn. Chẳng nhẽ cha ông ta từng lấn đất của Tàu?

Ở ải Vân Quan trên đỉnh Hải Vân, ta gặp một con người đặc biệt. Nghề chính của gã là chăn bò, đam mê lớn nhất của gã là thơ ca, còn thu nhập chính của gã nhờ vào mấy cái nhà vệ sinh tự xây cho những du khách cả tây lẫn ta, và thu phí.

Tên gã là Lại Thanh Hà. Nhưng nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo gọi gã là "lại... phiền hà". Nguyễn Minh Sơn có hẳn một bài ký nhân vật về gã, đăng nguyên trang báo Người Lao Động: Lại Phiền Hà trên đỉnh Hải Vân.

Trước đây gã không có nghề nghiệp, làm cu li ở Huế và được đồng nào lại mua rượu tìm đến giới văn sĩ đọc thơ, chửi đời. Các nhà thơ thì nghèo, gã thì càng nghèo và hay xin tiền. Nguyễn Trọng Tạo đặt cho gã cái tên Lại Phiền Hà vì mỗi lần gặp gã, ai cũng thấy phiền hà.

Nguyễn Trọng Tạo bảo gã: chú nên tìm việc gì đó mà làm, chẳng nhẽ làm thuê, uống rượu và đi xin tiền mọi người mãi sao? Bị nói hoài, nhột quá, gã cáu: Biết làm gì bây giờ, ông chỉ được cái nói mồm! Tạo thi sĩ cáu lại: Không biết làm gì thì lên đèo Hải Vân mà chăn bò!

Thế mà Lại Thanh Hà làm thật. Lên đỉnh đèo, chăn bò thuê, rồi gom góp mua được vài con bò. Ít lâu sau, thấy du khách hay dừng đỉnh đèo chụp ảnh và tè bậy, Hà cáu lắm. Đây là chỗ để kẻ chăn bò tao nhã như mình làm thơ, mà chúng nó làm khai um cả lên. Gã lặng lẽ san đất, xây mấy cái phòng vệ sinh và... thu phí. Ai ngờ, thu nhập rất khá. Mấy năm sau, gã trở thành chủ của một gian hàng lưu niệm trên đèo, đưa vợ con từ Bắc vào...

Ngày tôi gặp Lại Thanh Hà, gã đã là chủ của mấy chục ha rừng và mấy khu đất mặt tiền ở Liên Chiểu. Nhưng vẫn giữ cái biệt danh Lại Phiền Hà. Vẫn làm thơ và chăn bò, đó là gã chăn bò có quan hệ xã giao rộng nhất mà tôi từng biết. Bạn bè của gã nhiều nhất là báo, nhà thơ!

Hôm tôi đến, gã đang đi chăn bò, con của gã chạy kêu bố về. Giao cây roi và đàn bò cho đứa con, gã rủ tôi đến bức tường ải Vân Quan, chụp tấm hình làm kỷ niệm.

Từ ngày khánh thành hầm đường bộ Hải Vân, tôi ít có dịp gặp gã nhưng vẫn hay ngước nhìn lên đỉnh đèo mỗi lần đi qua đây. Trên đó có ải Vân Quan, có gió biển thổi từ cửa Nam Ô, có một gã chăn bò làm thơ giàu có.

Với gã, đường lên ải Vân Quan cũng là con đường đưa gã vượt qua cửa ải đói nghèo, khởi đầu bằng thơ và lòng tự trọng. Ải Vân Quan đã trở thành dấu mốc trong đời gã!.

Pó tay!


Em sợ lắm

Trong công viên, cô gái hỏi chàng trai:

Anh ơi sao mắt anh to thế?

Chàng trai trả lời: mắt anh to vì hồi bé anh khóc nhiều.

Cô gái tiếc nuối: Thế sao hồi bé anh không đi tiểu nhiều?

==> ặc ặc (bó tay)

(sưu tầm)

Nửa đêm, nghe điện thoại reo


Từ Toà soạn về, đã quá nửa đêm. Không ngủ được sau mười mấy tiếng căng thẳng. May quá, trong tủ vẫn còn nửa chai rượu! Bắc ghế ra sân ngồi, chưa nóng chỗ thì điện thoại reo.

Thông thường, ít có ai điện thoại máy bàn, trừ người thân. Vì vậy rất lo, liền bốc máy. Đầu dây là giọng vồn vã thăm hỏi Nghe giọng vừa lạ vừa quen, chắc lâu lắm không gặp. Khi biết là ai rồi, ta cũng không giấu nổi vui mừng: Ôi, cố nhân, ra tù bao giờ? "Ra đâu mà ra, án 13 năm, chừng nào cây xà beng trổ bông mới về". Vậy ông điện thoại cho tôi từ đâu? "Từ trại giam chứ đâu! Hỏi vậy cũng hỏi!"

Ở tù mà có điện thoại di động? Có sao không. Thằng đại gia mới ra tù chiều nay, nó có hai cái, tặng lại cho tôi và một thằng bạn tù. Chưa chắc máy của ông xịn bằng máy của tôi đâu nha! Thèm nghe tiếng người quá, nhớ mỗi số máy bàn của ông nên gọi vào!

Ai cho ông đưa điện thoại vào tù? Trời đất, làm báo mà không biết gì hết, biết cách là xong tuốt. Nếu mấy ổng không cho, con kiến cũng không lọt vào đây.

Vậy ngoài điện thoại di động, còn cái gì lọt vào chốn ấy không? Cái gì cũng lọt hết. Nhưng thôi ông đừng hỏi nhiều, tôi còn ở tù lâu mà, tôi không muốn rắc rối!

Ông sống trong tù thế nào? Tôi đi theo mấy đại gia làm tà lọt, rượu tây uống đều đều. Mình có phải tù mồ côi đâu. Tù cha, tù cậu mà!

......

Con kiến không vào nhưng cái gì cũng lọt vào.

Tù cha, tù cậu.

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

Nửa chai rượu đã hết. Vẫn không ngủ được!

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2007

Phan Rang lên thành phố


Lâu rồi, ta không nhìn Phan Rang như thế này nữa

Từ hôm nay, cái thị xã đầy nắng, gió và cát ấy trở thành Thành phố Phan Rang- Tháp Chàm.

Thị xã bé như bàn tay, dài và khẳng khiu gầy. Mỗi năm đều đặn hai mùa gió thổi dọc 12 tháng, gió chỉ trở chiều chứ chưa bao giờ lặng.

Nếu gió, cát và gai xương rồng có thể xuất khẩu, ắt Phan Rang đã trở thành xứ sở giàu nhất Việt Nam. Nhưng không ai mua xương rồng và gió cát, nên nó mãi nghèo. Lần lượt những đứa học trò quê đi rồi không về, mang sức lao động đi bán cho những nơi trả giá cao hơn.

Tết về quê, những kẻ chen chúc phố phường trở thành mẫu người thành đạt trong mắt người làng. Và vì thế, những đứa học trò quê thêm khao khát rời quê như các anh chị nó.

Lâu rồi, uống rượu với bạn bè, ta vẫn nhắc cái câu không biết đọc được ở đâu: "Lũ chúng ta từ quê ra đi và trở về nhìn quê bằng con mắt của người đi du lịch". Đôi khi, trở thành Việt kiều trên chính quê nhà mà không nhận ra.

Về quê, gọi là thăm cha mẹ nhưng một tuần hai ba bữa cơm nhà, còn lại là đi bù khú với mấy anh đồng nghiệp cùng quê. Mà những bữa cơm ở nhà, thông thường cũng trở thành những bữa bù khú với bạn bè. Biến nhà mình thành nhà hàng hay quán trọ, y hệt du khách.

Công việc, đời sống và nghề nghiệp biến đổi con người nhiều quá.

Lần giở những bài báo cũ, 15 năm trước, trong vòng ba năm ta viết 20 bài về vùng đất ấy. Toàn những cảm nhận tốt đẹp, những hăm hở khám phá: Những đêm vui ở một làng nghèo, Mỹ Tân mùa câu mực, Sông Dinh giữa hai bờ thương nhớ...

Trong vòng ba năm nay, gần 20 tuyến bài được ta triển khai thực hiện về Phan Rang, toàn những búa rìu: Lấy gạo mốc cứu đói cho dân, Những công trình tiền tỷ biến thành hàng mã, Đường chưa nghiệm thu đã sạt lở... Xen kẽ đấy toàn là những sai trái và những vụ tham nhũng.

Việc phê phán cái xấu, hẳn là cần. Nhưng đôi lúc lùi lại, đã thấy e ngại cho não trạng của mình: từ bao giờ, mình chỉ say sưa phê phán mà không nhạy cảm trước những điều tốt đẹp?

Không chỉ là Phan Rang, không chỉ là trang báo..

Hình như mình đã bớt nhân ái hơn?

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2007

Thời gian của Mẹ, Con và quý Toà


Tấm ảnh này chụp 11 năm trước ở sân Toà án Thành phố. Kết thúc phiên toà, trong cơn mưa, bà mẹ nhìn theo chiếc xe chở tử tù Phạm Minh Chánh, đứa con trai của bà, đã bị giam 11 năm. Hôm nay, người ta tiếp tục tuyên án tử hình anh, như những phiên toà trước.

11 năm, bà mẹ ấy thăm nuôi, chờ đợi con mình trở về. Thăm nuôi từ khi Phạm Minh Chánh còn là một chàng trai ngoài hai mươi đến khi anh đã là người đàn ông trạc tứ tuần. Đã hơn ba lần, bà nghe người ta tuyên án tử hình con mình. Đã hàng trăm lần bà viết đơn và gõ cửa công đường kêu oan cho con.

11 năm trong nhà tù, Phạm Minh Chánh lặp đi lặp lại hàng ngàn lời khai giống y nhau: "Tôi không giết người cướp của". Những lời khai của anh giống nhau, nhưng nó không giống với điều mà cơ quan điều tra muốn. Nên anh tiếp tục ở tù, tiếp tục ra toà. Nếu anh khai điều mà họ muốn, chắc anh không phải ở tù lâu đến vậy, chắc giờ người mẹ ấy chỉ gặp con mình trên bàn thờ.

11 năm, cơ quan điều tra cố chứng minh điều mà họ muốn. Lỡ bắt, lỡ giam rồi.

11 năm, Toà án cố chứng minh sự anh minh, nghiêm khắc và sáng suốt của mình. Mấy phiên toà trước lỡ tuyên tử hình rồi!

11 năm, bà mẹ ấy nhiều lúc tuyệt vọng, nhưng bà tin con không phạm tội . Lòng thương con giúp bà đứng dậy, vì bà là người mẹ.

Cuối cùng thì Phạm Minh Chánh cũng được trả tự do, Toà tuyên phạt anh mức án đúng bằng số ngày tù. Anh bị tuyên án về tội cướp, và mặc dù nạn nhân chết, nhưng anh không bị tuyên phạt tội giết người.

Tôi không tin Chánh phạm tội. Bởi nếu phạm tội, tức là anh cướp của giết người, phải tử hình. Bằng không, anh vô tội. Quan điểm cá nhân của tôi, bản án anh phải nhận chỉ là để hợp thức hóa hơn 11 năm "lỡ giam"; hợp thức hoá sự bất lực của các cơ quan tố tụng (vì không tìm ra thủ phạm); hợp thức hoá sự bất công mà người ta giáng xuống một con người.

11 năm là thời gian bị cướp đoạt của Chánh.

11 năm là thời gian đau khổ, chờ đợi của người mẹ.

11 năm ấy, là gì của Toà, của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra?

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2007

Đức Hiển cải đạo, trở thành người Hồi Giáo (*)


Đức Hiển (bên phải) chụp ảnh kỷ niệm trước thánh đường sau lễ cải đạo Ảnh: Tiến Đạt


Kính gửi quý đồng nghiệp, quý vợ, quý cơ quan, quý bồ bịch!

Từ hôm nay, Đức Hiển cải sang đạo Hồi.

Với dư luận, để tránh mọi sự ngộ nhận, tôi xin được nói rõ, sự kiện cải đạo này không liên quan đến nghề nghiệp. Hoàn toàn không có chuyện cơ quan cử Đức Hiển sang tác nghiệp tại Trung Đông, sa vào tay một nhóm vũ trang Hồi giáo cực đoan và bị ấn vào tay một cuốn kinh Coran, phải chấp nhận cải đạo để bảo mạng như kịch bản thường gặp. Đây là một sự tự nguyện! Đề nghị các tổ chức bảo vệ nhà báo và dư luận thế giới không nên can thiệp chuyện này!

Với quý vợ, xin được nói rõ, luật Hồi giáo cho phép mỗi người đàn ông được phép có bốn vợ. Vì vậy từ nay bà đừng có lộn xộn ghen tuông nếu không muốn bị đuổi ra khỏi nhà!

Với quý bồ bịch, cũng xin được nói rõ. Vì luật Hồi giáo cho phép lấy bốn vợ nên ta không có nhu cầu (và không đủ sức) để tiếp tục quan hệ bồ bịch với quý vị nữa. Tình ta chấm dứt từ đây. Quý bồ bịch nào có nhu cầu chuyển sang chế độ vợ hai, ba, tư xin nộp đơn trực tuyến hoặc liên hệ với vợ lớn để đăng kí và được hướng dẫn thủ tục!

Với quý bạn, đặc biệt là bạn nhậu, xin lưu ý luật Hồi giáo không cho phép uống rượu. Hiện tại Đức Hiển đang nghiên cứu có thể chuyển qua uống bia hay chăng. Tuy nhiên từ nay đề nghị những bạn chủ xị không gọi các món mồi chế biến từ thịt heo hoặc có liên quan đến con heo (trừ phim ảnh).

Vì đường qua Ả- rập- Xê- út quá xa, mà cơ quan không cho nghỉ, do vậy ta không thể làm lễ cải đạo tại Thánh địa Hồi giáo Mecca. Việc cải đạo được tiến hành tại một thánh đường Hồi giáo tại quốc nội.

Thánh Ala vĩ đại phù hộ cho các người!


* Vì lý do riêng, lễ cải đạo chỉ có sự chứng kiến của một người bạn ngoại đạo là nhà văn Tiến Đạt.